(0) item
Các Loại Bệnh Móng

Móng tay, tóc đều là phần phụ thuộc của da, là loại đạm sừng protein keratin, tuy nhiên chất sừng trong da là keratin mềm (soft keratin), tóc là keratin hơi cứng và móng là loại keratin cứng nhất (hard keratin).
Móng bắt đầu mọc từ móng non (matrix), được nuôi dưỡng bằng mạch máu, bạch cầu và thần kinh, giữ nhiệm vụ tăng trưởng tế bào móng, nằm dưới gốc móng, như là phần chân lông (papilla).  Móng non rất dễ bị tổn thương và khi bị bệnh sẽ làm móng mọc bất thường, nên cần thận đừng đè ép móng.  Vành trắng nữa vòng tròn là lunula ở gốc móng cũng là chỗ móng non nối liền nền móng.

HÓA TÍNH CỦA MÓNG

Từ kỷ thuật về móng là onyx, và môn học tìm hiểu về móng và onychology.  Móng có đặc tính thấm nước dễ hơn thấm vào làn da và lượng nước có ở móng cũng liên hệ đến sinh họat và môi trường sinh sống.  Móng tay nhìn thấy khô, bề mặt cứng nhưng có chứa lượng nước từ 10% đến 30%, móng bình thường chứa khoảng 18% và lượng nước trong móng giữ nhiệm vụ làm móng có độ dẻo dai, móng thiếu lượng nước cần thiết sẽ dẫn đến móng đục và dòn, vì thế thoa lớp sơn lót, hoặc các chất tái tạo cho móng tốt chính là giúp móng bớt đi sự mất nước ở móng.  Nồng độ hydrogen (pH) của móng thuộc acid từ 4.5 đến 5.5.
Một số nhà khoa học cũng đồng ý trong móng có calcium nhưng không hẳn giữ nhiệm vụ làm cho móng mạnh và cứng.   Các nguyên tố vô cơ (inorganic elements) được tìm thấy trong móng gồm zinc, magnesium, potassium, iron, copper, sodium và các hợp tố hữu cơ organic compounds (amino acids) như sulfur va nitrogen cũng tìm thấy trong móng để tạo chất sừng đạm (protein keratin).

ĐẶC TÍNH CỦA MÓNG


Móng tay mọc chậm hơn tóc, sự tăng trưởng của móng, thực tế không có một chất nào thoa lên giúp cho móng mọc nhanh hơn, tuy nhiên việc ăn uống đúng cách (good diet) sẽ giúp cho móng mọc tốt, khỏe hơn.
Móng tay mọc nhanh vào mùa hè, và chậm hơn vào mùa đông, và từng ngón cũng có khác như ngón cái (thumbnail) mọc chậm hơn các ngón khác; ngón giữa (middle fingernail) mọc nhanh nhất.  Móng trẻ em mọc nhanh hơn móng của người lớn và càng chậm dần khi về già.  Móng chân mọc chậm hơn so với móng tay, tuy nhiên móng lại cứng hơn và dày hơn.
Móng tay giúp cho bàn tay nắm giữ đồ vật chặt hơn, dễ dàng hơn, nhất là các vật nhỏ, và bảo vệ đầu ngón tay.  Móng chân giúp bảo vệ đầu ngón chân và đi đứng vững vàng hơn, bám chặt hơn.
 
Nhìn qua móng có thể nhận biết được tình trạng sức khỏe.  Móng bình thường sẽ có bề mặt móng mịn, hơi cong, không dấu vết trên móng, màu hồng nhạt, hơi có chất dầu, không bị lõm, móng không dợn sóng, cứng chắc và sáng bóng.
Móng trung bình mọc 1/8 inch (0.31 cm) mỗi tháng, mọc với hình dáng vuông, bầu dục, nhọn, hay tròn là tùy mỗi cá nhân.  Toàn bề mặt móng tay mọc dài cần thời gian từ 4 đến 6 tháng và móng chân cần từ 6 đến 12 tháng.  Tuổi từ 10 đến 14 móng mọc mạnh nhất và yếu dần lúc đến tuổi già.

PHÂN BIỆT BỆNH MÓNG: 

Nhìn qua màu móng người thợ có thể nhận biết như:
  • Màu trắng là thiếu chất đạm, bị gan, và thận.
  • Màu vàng là bệnh hệ thống bạch cầu, nhuộm tóc, chất nicotine thuốc lá.
  • Màu xanh do nhiễm trùng.
  • Màu nâu đỏ do nước sơn làm oxít móng, khô móng.
  • Màu nâu do nấm, sưng nhiễm trùng lâu ngày.
  • Màu đen do nấm lâu năm và thiếu trầm trọng vitamin 12.
 
Là chuyên viên móng (manicurist), bạn phải hiểu biết để thông báo cho khách những bệnh móng không thể làm được mà giới thiệu khách đi bác sĩ chữa trị, cũng như móng nào an toàn làm được.

Thợ không nên làm:

một điều có thể nhận biết da và móng nếu có sưng dù nhiễm trùng hay không, rách, trầy xước, sưng đỏ (paronychia); đau, có mủ (onychia); lỏng móng (onycholysis); móng thúi do nấm chuyển từ vàng sang đen (mold); bị nấm vàng ký sinh có đốm trắng và đường sọc hơi vàng (onychomycosis); móng rụng do nóng sốt, giang mai (onychoptosis); sưng và có màu đỏ trong móng (pyogenic granuloma); hoặc móng sưng phồng, cong làn da nhô cao hơn (onychogryposis) là không thể làm được và khuyên họ cần đi bác sĩ trị liệu.  Riêng loại móng bầm (bruised nail) có thể manicure, nhưng không nên làm móng giả lên móng bị bầm.

Thợ có thể làm:

như móng gợn sóng (furrows); móng mỏng trắng vỏ trứng (eggshell nail); móng bị xước (hangnails hoặc agnails); móng dày (onychauxis hay hypertrophy); móng chẻ (onychorrhexis); móng mọc đâm khóe (ingrow nail hay onychocryptosis); móng có đốm trắng (leukonychia); móng có nốt ruồi đen, nâu (nevus); da mọc chồm lên móng (pterygium); móng bị teo nhỏ (onychatrophia hay atrophy); móng mất màu do tuần hoàn kém (discolored nail).  
 

CẤU TRÚC CỦA MÓNG

Móng tay chia 3 phần: gốc móng (nail root) là chỗ móng bắt đầu mọc, thân móng (nail plate) là phần chính móng dính vào da, đầu móng (free edge) là phần móng dài quá đầu ngón tay.  Thân móng (nail body) thực tế là một kết hợp của nhiều lớp sừng đạm trở nên dày cứng.
 

Dưới móng tay gồm có:

  • Nền móng (nail bed) chứa dây thần kinh, nhiều mạch máu dinh dưỡng cho sự phát triển móng.
  • Móng non (matrix) là phần chính phát triển móng rất nhạy cảm, do đó người thợ móng cẩn thận đừng ép mạnh dễ bị tổn thương làm móng phát trưởng bất thường và gây bệnh.  Móng chứa nhiều dây thần kinh, máu đỏ, bạch cầu kiểm soát mức tăng trưởng của móng.  Móng non sẽ tiếp tục phát triển mạnh khi nhận đủ sự dinh dưỡng cho tế bào móng.  Móng sẽ mọc chậm lại nếu sức khỏe kém hoặc tổn thương móng non
  • Vòng bán nguyệt (lunula) là phần màu trắng lợt ở gốc móng, chỗ móng non nối liền nền móng.

Chung quanh móng tay gồm có:

  • Eponychium là da mọc ở gốc móng kéo dài lấn tới chỗ nữa mặt trăng (lunula)
  • Lớp da ngoại bì nằm chung quanh viền móng (perionychium)
  • Lớp da xếp sâu trong gốc móng (mantle)
  • Rãnh móng (nail grooves) là khe hở để móng mọc ra hai bên móng
  • Thành móng (nail walls)  là lớp da xếp chồng hai bên móng
  • Lớp da chồng lên nhau bao quanh móng (cuticle)
  • Da ngoại bì dưới đầu móng (hyponychium)

Móng mọc nhanh lúc còn trẻ, lúc phụ nữ mang thai, chơi đàn piano, đánh máy vì có sự kích thích móng và ngược lại móng sẽ mọc chậm hơn vì thiếu dinh dưỡng, dùng thuốc kích thích như cần sa, thiếu máu, rối loạn nội tiết, xuống trọng lượng nhanh, đó là dấu hiệu của bệnh móng.

A service can be performed - Tình trạng móng có thể phục vụ cho khách

  • Leukonychia (white spot)                                   : đốm trắng
  • Onychatrophia (atrophy)                                 : rụng móng
  • Agnails (hangnails)                                            : xước da quanh móng
  • Furrows (corrugations)                         : mặt móng gợn sóng
  • Onychauxis (hypertrophy)                               : móng bị dày do bệnh nội thương, di truyền
  • Onychocryptosis (ingrown nails)                       : móng mọc đâm khóe
  • Onychophagy (bitten nails)                                : thói quen cắn móng
  • Eggshell nails                                     : trắng, mỏng cong đầu móng
  • Onychorrhexis (split nails)                               : móng chẻ và dòn
  • Pterygium                                                      : da mọc chồm lên móng
  • Onychophyma                                               : móng dày phồng lên
  • Discolored nails                                             : có màu, xanh, đỏ, tím do dùng thuốc, bệnh tim.
  • Onychophosis                                               : lớp sừng mọc dày ở nền móng
  • Nevus                                                            : nốt ruồi nâu hoặc đen trong móng
  • Tile-shaped nails                                           : móng cong đều từ móng non đến đầu móng
  • Eponychial disorders (hyponychial)    : da mọc tràn lên mặt móng và dưới đầu móng
  • Melanonychia                                                : mặt móng có lằn sợi đen từ nền đến đầu móng.
  • Plicatured nail                                                : móng biến dạng từ móng non ngón chân, đầu móng có hình vuông
  • Bruised nails                                                  : móng dập đông máu bên trong có màu tím (chỉ làm manicure thôi)
  • Ram’s horn nails (onychogryphosis)                  : nâu cứng, cong như kèn do không chăm sóc, tổn thương móng non
  • Blue nails                                                     : móng xanh do tuần hoàn kém

 

A service cannot be performed - Tình trạng móng không thể phục vụ

  • Onychia                                                         : sưng móng có mủ dẫn đến rụng móng
  • Paronychia                                                    : sưng đỏ chung quanh móng
  • Pyogenic granuloma                          : sưng tụ máu đỏ ở nền đệm móng đến thân móng
  • Mold (fungus)                                                 : móng bị nấm, ẩm móng có màu vàng, xanh hoặc đen
  • Athelete’s foot                                               : nấm ở chân
  • Blister (ringworm)                                         : mụn nước ở loại nấm vòng
  • Onychomycosis (tinea unguium)                      : móng nhiễm trùng do nấm thực vật
  • Onycholysis                                                  : móng nhiễm trùng từ đầu móng đến nền móng
  • Onychoptosis (syphilis)                                   : móng và ngón rụng, có bệnh giang mai
  • Onychomadesis                                             : mặt móng rụng do nhiễm trùng ở móng non
  • Trumpet (pincer nail)                                       : móng kèn mọc dài cuốn lại biến dạng ở ngón chân
  • Infected ingrown nails                                   : móng mọc đâm khóe bị nhiễm trùng